Kết quả nghiên cứu tiêu biểu

QUYỀN TIẾP CẬN CỦA NGƯỜI DÂN VỚI BIỂN: THỰC TIỄN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Nguyễn Thị Hà Thành, Đặng Văn Bào

Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

Abstract: Protecting the right of public access to the coast is one of the most important functions of a coastal setback zone. However, even when Law on Sea and Islands Natural Resources and Environment has been adopted since 2015, Vietnamese government has still faced several difficulties in establishing a coastal setback zone. This delayed action causes a series of economic constructions at every level continue to rise, invading the coastal space and therefore violating the right of public access. This report was written in order to build a theoretical and practical framework for public access to the coast as an initial step to establish a coastal setback zone – one of the current compulsory requirement for the coastal zone management of Vietnam.

Keywords: the right of public access to the coast, coastal zone of Vietnam, coastal setback zone

1. Mở đầu

Theo thống kê của WB, hàng tỷ người trên thế giới – đặc biệt là những người nghèo nhất – đang sống dựa vào nguồn tài nguyên biển. Theo OECD, biển cung cấp giá trị kinh tế đến 1,5 nghìn tỷ USD hàng năm cho nền kinh tế. Thống kê của FAO cho biết nghề cá và thuỷ hải sản đảm bảo sinh kế cho 10-12% tổng dân số thế giới, trong đó có 90% sinh sống nhờ vào đánh bắt thuỷ hải sản quy mô nhỏ ở các nước đang phát triển. Năm 2014, nghề cá cung cấp sản lượng tới 167 triệu tấn cá và tạo ra gần 148 tỷ USD hàng xuất khẩu, đảm bảo thức ăn cho hàng tỷ người và chiếm đến 17% lượng protein động vật toàn cầu, thậm chí tỷ lệ này còn cao hơn nữa ở các nước nghèo [14].

   Bên cạnh đó, biển và đặc biệt là bờ biển còn có giá trị to lớn về mặt vui chơi, giải trí và tham quan đối với người dân. Theo số liệu của UNWTO năm 2013, gần một nửa khách du lịch lựa chọn điểm đến là vùng ven biển [9]. Số liệu thống kê của EU cũng cho thấy du lịch biển đảo chiếm phần lớn giá trị của toàn ngành du lịch, trong đó thời gian lưu trú đêm của khách du lịch đến biển đảo chiếm đến 45% tổng số đêm lưu trú của toàn du khách [6].

Tiếp cận của người dân với biển là quyền của công dân toàn cầu, đảm bảo quyền dân chủ và sự công bằng tới tất cả mọi người [5], là giá trị xã hội được đảm bảo và được chứng nhận bởi nhiều quốc gia trên thế giới [8]. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, quyền tiếp cận của người dân với biển đang bị đe doạ, kể cả ở các nước phát triển hay đang phát triển, các nước công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai hay các nước có sở hữu công về đất đai.

Bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển là một trong những chức năng quan trọng của hành lang bảo vệ bờ biển, nên báo cáo này được viết với mục đích tổng hợp một số vấn đề về quyền tiếp cận biển ở trên thế giới và Việt Nam, làm cơ sở cho việc đánh giá, thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển ở toàn dải ven biển Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu này, bài báo sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như: tổng quan tài liệu nghiên cứu về quyền tiếp cận của người dân với biển, các tài liệu và thông tin báo chí về tình trạng xâm phạm quyền tiếp cận của người dân với biển ở khu vực ven biển Việt Nam; phương pháp khảo sát thực địa ở một số tỉnh ven biển Việt Nam để nắm được hiện trạng thực tế về đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển và xác lập hành lang bảo vệ bờ biển.

2. Cơ sở lý luận về quyền tiếp cận của người dân với biển

2.1. Khái niệm về quyền tiếp cận của người dân với biển

Quyền tiếp cận của người dân với biển (hay ở nhiều nước trên thế giới, được gọi là quyền tiếp cận công tới biển – public access to the coast) đã được nhận thức về tầm quan trọng từ nhiều năm nay. Đối với các nước phương Tây, nó bắt nguồn từ Luật La Mã với cái gọi là Luật tín thác công (Public Trust Doctrine): “…không một ai, vì thế, bị ngăn cấm quyền tiếp cận đến đường bờ biển, với điều kiện là họ phải tôn trọng nơi cư trú, di tích, công trình ở đó, mà không phải là chỉ tuân thủ luật pháp của quốc gia” [8]. Hiện nay, có khá nhiều quy định về quyền tiếp cận của người dân với biển trên thế giới. Tuỳ thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ mà quyền tiếp cận của người dân với biển được giới hạn bởi các hoạt động, và phạm vi thực hiện khác nhau.

Ở bang Nova Scotia –nằm ở miền Đông của Canada, quyền tiếp cận của người dân với biển là chỉ khả năng của cộng đồng được nhìn, sờ và di chuyển dọc theo bờ biển của cả vùng nội địa và các đảo lân cận. Quyền tiếp cận của người dân với biển đem lại những không gian giải trí có giá trị cho cả người dân và du khách. Nó cũng hỗ trợ sự phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt là công nghiệp du lịch. Theo đó, công chúng có quyền được “nhìn và sử dụng bãi biển, được quyền đi qua các khu đất để tiếp cận đến bãi biển, được tiếp cận đến bãi biển từ vùng hải thuỷ, chi trả để tiếp cận đến bãi biển thông qua phí, sử dụng vùng bãi biển nhưng không gây tổn hại lớn cho môi trường” [12].

Theo các đạo luật của bang Washington, Mỹ, quyền tiếp cận của người dân với biển đem lại cho người dân cơ hội được “sờ, chạm và tận hưởng mép nước, được tham quan trên mặt nước, được quan sát biển và bờ từ khu vực lân cận”. Quyền này được thực hiện nhờ hệ thống các đường mòn, phao nổi, các bến cảng, khu vui chơi, cầu, đường và bờ trượt (để hạ thuỷ tàu). Bảo vệ quyền tiếp cận của người dân với biển được đảm bảo và bảo vệ bởi các bộ luật liên quan đến đường bờ hoặc vùng bờ biển của bang Washington như Luật Quản lý đường bờ (Shoreline Management Act), và Luật Quản lý vùng ven biển (Coastal Zone Management Act) [5].

Uỷ ban bảo tồn và phát triển vịnh San Francisco, Mỹ, định nghĩa quyền tiếp cận của người dân với biển là “thành phần không thể thiếu của sự phát triển, bao gồm các hoạt động đi dạo, đi xe đạp và các hoạt động dịch chuyển phi máy móc khác. Nó cũng có thể bao gồm các hoạt động câu cá, cắm trại, lướt ván, chèo thuyền, giáo dục tự nhiên và hoạt động bến bãi khác.” Giữa khu vực cho phép xây dựng các công trình tư và khu vực bờ biển công cộng cùng những con đường công dẫn ra bờ biển đều có những khoảng không gian để đảm bảo sự an toàn và trải nghiệm cho mọi người dân [10].

Mặc dù những khái niệm và quy định về đảm bảo quyền tiếp cận của người dân đến biển không hoàn toàn giống nhau, nhưng nhìn chung, có thể hiểu quyền tiếp cận của người dân với biển hay quyền tiếp cận công tới biển là quyền được thực hiện các hoạt động tham quan, giải trí của công cộng ở vùng bãi biển và trên biển.

2.2. Các mâu thuẫn nảy sinh trong thực hiện quyền tiếp cận của người dân với biển

Xét về loại hình mâu thuẫn chính giữa các quyền tiếp cận của người dân với biển thì có hai loại mâu thuẫn nảy sinh: mâu thuẫn giữa quyền tiếp cận của cộng đồng địa phương và người dân ngoại vùng, giữa quyền tiếp cận công và quyền sở hữu tư.

Ở bang Connecticut (Mỹ), mâu thuẫn về tiếp cận biển dấy lên do xung đột giữa khả năng tiếp cận của cộng đồng địa phương và của người dân ngoại vùng. Trong nhiều năm, nhiều thị trấn có bờ biển của Connecticut duy trì các điểm được quyền tiếp cận biển chỉ dành cho cư dân vùng đó – những người trả thuế trực tiếp cho việc bảo trì chúng, và thu phí khá đắt đối với các cư dân ngoại vùng. Vé cũng được bán ở trụ sở toà thị chính chứ không phải ở lối vào bãi biển. Do đó những điều này cũng khiến cho nhiều người dân ngoại vùng khó lòng tiếp cận đến được các bãi biển của Connecticut [14].

Bang California cũng đã vấp phải nhiều khó khăn khi duy trì quyền tiếp cận của người dân với biển, điển hình ở các bờ biển của thành phố Malibu, Newport Beach. Ở bãi biển Broad Beach thuộc thành phố Malibu, những nhà giàu thậm chí còn xúc cát biển để sử dụng cho các công trình tư của mình, và do đó gây ảnh hưởng đến môi trường biển, giảm khả năng tiếp cận của người dân với biển. Người da màu và người nghèo là những người chịu thiệt thòi nhất và trước tiên đối với sự tư hữu hoá bờ biển này. Vấn đề này hiện hữu trên toàn bờ biển Malibu, những bức tường rào của những ngôi nhà thuộc sở hữu tư nhân trên bờ biển khiến người dân đi qua khó lòng nhận ra khu vực bãi biển thuộc về cộng đồng, và cũng không biết làm thế nào để đi được ra đến biển [9].

Tại thành phố Mabibi của Nam Phi, những ngư dân không được tiếp cận trực tiếp tới biển vì khu resort nghỉ dưỡng cao cấp Thonga Beach Lodge; khu nghỉ dưỡng này đã xây dựng trên bãi biển, có con đường riêng ra biển mà các ngư dân không được sử dụng, và cũng ngăn các thuyền đưa đón khách du lịch bên ngoài vào, mà chỉ có thuyền của resort mới tiếp cận được đến khu bờ biển này. Những nỗ lực của cộng đồng nhằm đòi lại sự công bằng chưa đạt được thành công [13].

Ở Philippines, các vấn đề về quyền tiếp cận của người dân với biển nổi lên, xuất phát từ việc xây dựng các công trình kiên cố trên các vùng đất gần bờ hoặc ngay trên bờ biển. Các công trình thuộc sở hữu tư được xây trên các vùng đất bờ được thuê thường được bao quanh bởi hệ thống tường rào, khiến một vùng bờ bị bao lại và từ đó có thể cản trở tiếp cận của người dân đến vùng bờ biển từ các vùng đất liền phía trong. Ngoài ra, các công trình khác như cầu cảng, bến bãi, bờ kè, bờ đê, tường ngăn… được các cá nhân hoặc tổ chức dựng lên cũng ngăn cản sự tiếp cận của người dân đến bãi biển hoặc vùng bờ biển. Các khu resort ở bờ biển là một ví dụ của hiện tượng này[4].

Những mâu thuẫn như thế này sẽ càng trở nên nghiêm trọng hơn đối với các hòn đảo nhỏ, bởi giới hạn về kích thước bãi biển [7]. Canouan, một hòn đảo nhỏ ở phía nam quốc đảo Saint Vincent và Grenadines, là một ví dụ. Vào khoảng cuối những năm 1990, chính phủ đã cho người nước ngoài thuê lại 2/3 diện tích đất ở phía bắc, gồm nhiều bờ biển đẹp nhất, để xây một khu tổ hợp hàng triệu đô la gồm khách sạn, casino và sân golf. Khách sạn này hiện là điểm độc nhất của đất nước, thu hút người giàu và người nổi tiếng đến. Tuy nhiên, điều này gây ảnh hưởng đến gần 1000 cư dân sinh sống nơi đây, những người chủ yếu sống dựa vào đánh cá, làm nông nghiệp và du lịch, thường sử dụng bãi biển để câu cá, thư giãn và tập thể dục. Mâu thuẫn này thậm chí đã biến thành bạo lực vào cuối năm 2000, do người dân địa phương tức giận với bức tường của khu tổ hợp, đã ngăn họ được tiếp cận đến bờ biển Godahl Beach. Mâu thuẫn tương tự cũng diễn ra với các bờ biển của quốc đảo Seychelles [7].

2.3. Đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển

Quyền tiếp cận của người dân với biển đảm bảo quyền dân chủ và sự công bằng [7], là giá trị xã hội được đảm bảo và được chứng nhận bởi nhiều quốc gia trên thế giới [8], do đó, quyền tiếp cận của người dân với biển phải được bảo vệ và thực thi.

Nhiều quốc gia, nhiều bang cũng đã có những quy định riêng để đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển. Toà án tối cao Connecticut (Mỹ) đã cấp quyền cho công dân nơi khác được sử dụng bãi biển công (không cùng thành phố). Năm 2002, Hội đồng bãi biển California cũng đã ra kế hoạch bãi biển địa phương, yêu cầu thành phố Malibu phải tối đa hoá khả năng tiếp cận của người dân với biển để đảm bảo sự đối xử công bằng với mọi người thuộc các dân tộc, văn hoá và thu nhập khác nhau. Cho đến nay, Malibu đã chấp nhận quyền tiếp cận của người dân tới các bãi biển của thành phố, xây dựng nhiều công trình phụ trên bờ, các con đường nhỏ dẫn tới biển để phục vụ người đến tham quan cũng và đã có những chỉ dẫn cụ thể cho du khách. Đáng chú ý phải kể đến thành phố Rio de Janeiro, nơi đã đảm bảo được quyền tiếp cận của người dân với biển, ở đây, các bãi biển nổi tiếng được tiếp cận bởi tất cả mọi người dân, từ giàu đến nghèo, kể cả da đen lẫn da trắng [9].

Ở bang Washington (Mỹ), chính quyền địa phương quy định trong trường hợp mà các hoạt động công cộng mâu thuẫn với bảo vệ môi trường vùng đất ngập nước hay cuộc sống của các loài hoang dã thì việc bảo vệ các nguồn tài nguyên được ưu tiên hơn. Tuy vậy, thông thường thì sự dung hoà giữa các mục đích vẫn được cân nhắc thực hiện. Ví dụ như vùng bảo tồn đất ngập nước có thể cho phép tiếp cận của người dân với biển mà vẫn giảm thiểu được sự tổn hại cho môi trường thông qua việc xây dựng các chòi quan sát, trạm tham quan hay đường đi bộ phục vụ du khách [5].

Ở Philippines, để đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển, cảnh sát biển sẽ bắt buộc các chủ sở hữu công trình vùng gần bờ khi xây dựng phải chừa một con đường bên, không rộng quá 6m, dọc theo công trình và sát bờ biển. Con đường này chạy dọc theo tường rào của công trình, và người dân được quyền đi lại trên con đường này để tiếp cận đến biển. Điều này được thể hiện trong Luật về nguồn nước của Tây Ban Nha, hiện vẫn đang có hiệu lực ở Philippines. Điều 13A trong hợp đồng thuê vùng bờ biển (Foreshore Lease Contract) bổ sung thêm rằng bên thuê phải tạo điều kiện cho quyền tiếp cận của người dân với biển miễn phí để sử dụng và thưởng thức bờ biển và vùng nước gần bờ, cho cả hoạt động sinh kế hay hoạt động giải trí. Con đường công cộng dành cho người dân ở khu vực này không hẹp hơn 3m, được xây bởi bên thuê. Nếu không làm được thì bên thuê sẽ bị chấm dứt hợp đồng [4].

Bên cạnh đó, việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển cũng là một trong những cách thức hiệu quả để đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển ở nhiều nước trên thế giới, được thể hiện trong Luật về Quản lý vùng bờ biển của Mỹ, Luật Quốc gia về Quản lý vùng bờ biển của Brazil, Luật 690 của Nicaragua, Chính sách Quản lý vùng bờ biển của Australia,…[11]

4. Quyền tiếp cận của người dân với biển ở Việt Nam

Việt Nam có trên 3260km đường bờ biển, với dân số trung bình đạt 46,2 triệu người, chiếm gần 50% so với tổng số dân của cả nước.Mật độ dân số của vùng ven biển đạt 545 người/km2, cao hơn gần gấp đôi so với mật độ dân số của cả nước (280 người/km2) [3]. Vùng ven biển là nơi tập trung đông đúc dân cư hơn nhiều so với các vùng miền núi phía trong nhờ vào lịch sử khai thác lãnh thổ lâu đời, địa hình đồng bằng và điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn cho canh tác, sản xuất. Vùng ven biển có nhiều đô thị quan trọng của cả nước, như Hạ Long, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thanh Hoá, Vinh, Huế, Nha Trang, Quy Nhơn, Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh,… Điều này cho thấy vùng biển có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế và an ninh, quốc phòng của Việt Nam.

4.1. Các vấn đề trong đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển ở Việt Nam

Ở Việt Nam cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về quyền tiếp cận của người dân với biển. Trên thực tế, mặc dù Việt Nam công nhận quyền sở hữu đất đai toàn dân, nhưng nhiều hoạt động xâm phạm đến quyền tiếp cận của người dân với biển vẫn đã và đang diễn ra ở nhiều nơi, theo cả hai chiều: đó là quyền tiếp cận biển theo chiều vuông góc (perpendicular access) và quyền tiếp cận biển theo chiều ngang (lateral access). Quyền tiếp cận của người dân với biển chưa được quy định chi tiết ở bất kỳ văn bản luật hay chính sách nào của quốc gia.

Tiếp cận biển theo chiều vuông góc là sự tiếp cận đến biển từ phía bên trong đất liền. Trong khi đó, tiếp cận biển theo chiều ngang là sự tiếp cận, đi lại dọc bãi biển để thực hiện các hoạt động tham quan, vui chơi, giải trí, và cả các hoạt động sinh kế,… Việc xâm phạm quyền tiếp cận biển đang trở thành vấn nạn ở nhiều bãi biển trên dải ven biển Việt Nam: như tình trạng cấp phép cho hàng loạt dự án xây dựng resort, khu nghỉ dưỡng cao cấp dọc bờ biển đã không chỉ chắn lối đi ra biển của người dân mà còn che chắn hết tầm nhìn ra biển; cấp phép cho các Khu công nghiệp, Khu kinh tế (không liên quan đến khai thác trực tiếp tài nguyên biển) ở vùng ven biển cũng đồng nghĩa với việc lấy đi khoảng không gian cho các sinh kế biển và hoạt động du lịch, giải trí của người dân.

Tại Thanh Hoá, tình trạng sai phạm của FLC Sầm Sơn đối với phần bãi biển Sầm Sơn đã gây bức xúc trong dư luận một thời gian dài. Khu vực bãi biển trước FLC vẫn đang bị khoá, “khoá” khu vực bãi biển trước resort, với các chốt bảo vệ ở các điểm ranh giới giữa FLC và khu khác, điều này có nghĩa là tại khu vực này, quyền tiếp cận dọc biển của người dân không được thực hiện.

Ở Hà Tĩnh, việc vi phạm quyền tiếp cận của người dân với biển lại diễn ra dưới một góc độ khác. Dự án khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa được xây dựng ngay vùng ven biển Vũng Áng, Hà Tĩnh rộng 2.025ha (diện tích đất liền), và đã dành 281ha bãi biển để làm bãi thải xỉ với khối lượng chứa lên tới hàng chục triệu m3 từ năm 2008. Toàn bộ khu công nghiệp Formosa nằm trọn trên bãi biển, che lấp hơn 5km bãi biển. Không chỉ người dân mà bản thân chính quyền địa phương cũng khó tiếp cận được đến khu vực này. Bên cạnh đó, việc xả thải ra môi trường không đúng quy định của Formosa đã gây ảnh hưởng nặng nề đến môi trường biển, tất yếu gián tiếp gây ảnh hưởng không tốt tới các hoạt động sinh kế và giải trí của người dân như đánh bắt hải sản, buôn bán hải sản, tắm biển,…

Hiện nay, dọc bãi biển Đà Nẵng, có thể kể tên rất nhiều resort cao cấp nằm ngay sát bờ biển, chiếm trọn tầm nhìn ra biển, như: Khu nghỉ dưỡng Furama, Đô thị du lịch quốc tế Ariyana, Fusion Maya Resort, Olalani Resort, Silver Shores International Resort, Vinpearl Luxury Da Nang, The Song Da Nang Beach Villas, Hyatt Regency Da Nang Resort and Spa, Sandy Beach Resort, Pulchra Da Nang,… Trên quãng đường dài của bờ biển Đà Nẵng, chỉ có một số lối xuống biển công cộng được dành cho người dân, như bãi Mỹ Khê, bãi Sơn Thuỷ, bãi Non Nước,… Những bãi này mặc dù đẹp nhưng đều có điểm nguy hiểm, cấm tắm (hiện trạng khi đi khảo sát thực địa mùa mưa – tháng 7). Vì những bất cập đó, chính quyền Đà Nẵng cũng đã có những bước đi để tính toán, quy hoạch lại khu vực ven biển, nhằm thu hồi những dự án xây resort chậm tiến độ và chú ý giành đất cho phát triển du lịch cộng đồng.

   Ở Quảng Nam, các bãi Cửa Đại, Cửa Hội đều xảy ra tình trạng khoá bãi biển bởi các resort Vinpearl, Furama, Victoria, Golden Sand,… Người dân thậm chí không thể đi lại dọc bờ biển ở phía trước các resort này bởi không được vượt qua hàng rào cùng các chốt canh của resort trên bãi biển.

Nha Trang là trung tâm du lịch lớn nhất của cả nước, mang tầm quốc tế, do đó là thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư resort và khu biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp. Hàng loạt các resort như Champarama, Amiana mọc lên, bao chiếm toàn bộ diện tích bãi biển đẹp của Nha Trang. Ở một số bãi biển còn có khả năng tiếp cận được theo chiều vuông góc thì khả năng tiếp cận theo chiều ngang lại bị xâm phạm. Trong đó, nhiều tổ chức, cá nhân đã lấn chiếm trái phép diện tích bãi biển để đặt thêm dù, ghế mà không bị các cơ quan chức năng xử phạt. Ở nhiều đoạn, nhiều ghế, dù được đặt đến tận sát mép nước biển, gây khó khăn cho việc đi lại dọc bờ biển của người dân. Phú Quốc cũng là một trong những điểm du lịch đang thu hút ngày càng nhiều du khách trong nước và quốc tế đến, với nhiều chính sách hấp dẫn về phát triển du lịch. Phú Quốc là điểm du lịch đầu tiên của cả nước có chính sách thị thực thuận lợi cho du khách quốc tế. Tuy nhiên, chính vì sự hấp dẫn du lịch đó, mà Phú Quốc hiện nay đang là điểm nóng về tình trạng rào chiếm bãi biển của hàng loạt resort cao cấp. Toàn bộ 13km Bãi Trường ở phía Tây đảo Phú Quốc đã bị lấn chiếm bởi các resort trong nhiều năm trở lại đây. Làng chài Hàm Ninh ở phía đông đảo Phú Quốc đã được quy hoạch là trung tâm đánh bắt hải sản với cảng cá, du thuyền, và các làng nghề phục vụ du lịch. Tuy nhiên, hàng loạt nhà hàng, kho xưởng sản xuất hải sản, nhà ở,…đã mọc lên ở vùng ven biển của làng chài, gây mất thẩm mỹ và ảnh hưởng đến môi trường khu vực. Các hệ luỵ liên quan về vấn đề môi trường và cảnh quan đang khiến làng chài không còn là điểm đến hấp dẫn của du lịch, ảnh hưởng nhiều đến sinh kế của người dân.

Đối với những trường hợp này, không chỉ người dân vùng ven biển không được quyền tiếp cận đến biển, mà những du khách đến ở các khách sạn nhỏ phía bên trong, cũng sẽ khó tiếp cận đến biển để tắm biển và giải trí. Quyền tiếp cận của người dân với biển bị xâm phạm, thể hiện rất rõ nét trong thực trạng hiện nay ở dải ven biển Việt Nam.

4.2. Quyền tiếp cận của người dân với biển trong thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển

Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền tiếp cận của người dân với biển, Quốc hội nước Việt Nam khóa XIII ngày 25 tháng 06 năm 2015 đã thông qua luật số 82/2015/QH13 – Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo năm 2015, trong đó nhấn mạnh đến việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển. Đây cũng là một trong những nguyên tắc cần thiết để lập quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ. Hành lang bảo vệ bờ biển là dải đất ven biển được thiết lập ở những khu vực cần bảo vệ hệ sinh thái; duy trì giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên ở vùng bờ; giảm thiểu sạt lở bờ biển; ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển [2]. Luật đã quy định rất rõ ràng, một trong những chức năng quan trọng của hành lang bảo vệ bờ biển là đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển. Sau đó, Thông tư 29/2016/TT-BTNMT ra đời vào ngày 12 tháng 10 năm 2016, quy định những kỹ thuật chi tiết để thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, có chỉ ra rằng để đánh giá yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển của một khu vực, phải dựa trên 5 yếu tố: Mật độ dân số tại vùng ven biển; Thực trạng các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của người dân diễn ra tại vùng bờ; Số lượng người dân tại vùng đất ven biển có sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào biển; Hiện trạng và quy hoạch các công trình xây dựng tại khu vực và Nhu cầu thực tiễn của người dân tiếp cận với biển [1]. Tuy nhiên, bản thân Thông tư 29 không hướng dẫn rõ ràng các chỉ tiêu cụ thể với các yếu tố này để thực hiện đánh giá. Điều này gây khó khăn cho các nhà khoa học và chính quyền các cấp trong việc xây dựng cơ sở khoa học để xác lập hành lang bảo vệ bờ biển.

Từ khi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo ra đời, sau hơn một năm triển khai Luật, tính đến tháng 6/2017, mới chỉ có 9/28 tỉnh thành xây dựng được kế hoạch thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển. Cho đến nay, một hành lang bảo vệ bờ biển đúng nghĩa trên dải bờ biển Việt Nam vẫn chưa được thiết lập. Việc xác lập và thực thi pháp lý cho hành lang bảo vệ bờ biển ngày càng trở nên khó khăn, bởi không gian ven biển đang ngày càng bị thu hẹp, nhường chỗ cho hàng loạt công trình kinh tế với đủ quy mô mọc lên. Tình trạng khoá bờ biển bởi các resort, khu kinh tế tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi, xâm phạm đến quyền tiếp cận của người dân với biển. Nhiều tỉnh thành hiện gặp những vướng mắc khó có thể khắc phục trong xác lập hành lang bảo vệ bờ biển bởi phần lớn không gian vùng ven biển đã bị xâm phạm, điển hình như Thái Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi,… Tình trạng sẽ ngày càng trở nên khó kiểm soát bởi dự báo nhu cầu về nghỉ dưỡng cao cấp và nhu cầu căn hộ nghỉ dưỡng hướng biển vẫn đang tiếp tục tăng cao, cùng với sự phát triển và gia tăng GDP của Việt Nam. Do đó, yêu cầu sớm hình thành cơ sở khoa học và những tiêu chí đánh giá cụ thể về đảm bảo quyền tiếp cận của người dân trong xác lập hành lang bảo vệ bờ biển đang ngày càng trở nên cấp thiết.

Kết luận

   Quyền tiếp cận của người dân với biển là một trong những quyền quan trọng, cần thiết được bảo vệ. Ở Việt Nam, việc bảo vệ quyền tiếp cận biển đang ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, trong bối cảnh sự xâm phạm đến quyền tiếp cận của người dân với biển đang gia tăng.

   Các hoạt động xâm phạm đến quyền tiếp cận của người dân với biển đang diễn ra phổ biến ở nhiều nơi dọc bờ biển Việt Nam, và đặc biệt trầm trọng hơn ở dải ven biển từ Nam Trung Bộ (Đà Nẵng) trở vào. Các hoạt động xâm phạm quyền tiếp cận biển như xây dựng hàng loạt resort, khu nghỉ dưỡng cao cấp, khách sạn,…dọc bờ biển, bịt lối dẫn ra biển của người dân, ngăn cản người dân thực hiện các hoạt động vui chơi, giải trí ở bãi biển phía trước các resort; cản trở việc đi lại dọc bờ biển của người dân do các hoạt động cho thuê ghế, dù trên toàn bộ không gian bãi biển,… Đối tượng bị ảnh hưởng bao gồm cả khách du lịch lẫn cộng đồng cư dân địa phương.

Trong bối cảnh đó, việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển sẽ có nhiều ý nghĩa đối với sinh thái, môi trường và đặc biệt cả đối với việc đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển. Tuy nhiên, việc xác lập và đưa vào thực thi pháp lý hành lang bảo vệ bờ biển cho dải ven biển Việt Nam cần phải được thực hiện nhanh chóng, để có thể giảm thiểu tối đa các sai phạm trong lấn chiếm bờ biển đang tiếp tục diễn ra. Cộng đồng cư dân cũng là đối tượng quan trọng cần phải được tham gia ý kiến trong việc xác lập hành lang bảo vệ bờ biển ở địa phương mình.

*Lời cảm ơn: Bài báo được hoàn thành trong khuôn khổ đề tài NCKH cấp nhà nước mã số KC.09.17/16-20. Tập thể tác giả xin chân thành cảm ơn!

Tài liệu tham khảo

I. Tài liệu tham khảo tiếng Việt

  1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thông tư số 29/2016/BTNMT về quy định kỹ thuật thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, ra ngày 12 tháng 10 năm 2016.
  2. Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo, Luật số 82/2015/QH13.
  3. Tổng cục thống kê (2016), Số liệu thống kê toàn quốc năm 2016, http://gso.gov.vn/.

II. Tài liệu tham khảo tiếng Anh

  1. Batongbakal, J.L (2002), A Crowded Shoreline – Review of the Philippines’ Foreshore and Shore Land Management Policies, The Coastal Resource Management Project – Department of Environment and Natural Resources, Tetra Tech EM, Inc, 39 pages.
  2. Department of Ecology – State of Washington (2011), SMP (Shoreline Management Program) Handbook, 572 pages.
  3. European Commission and European MSP Platform (2017), Coastal and Maritime Tourism, Roundtable discussion paper, Technical Study – MSP as a tool to support Blue Growth, 11-12 October 2017, pp.155-164.
  4. Gillian Cambers, Annette Muehlig-Hofmann, Dirk Troost (2003), Coastal Land Tenure: a Small-islands’ Perspective, Environment and Development in Coastal Regions and in Small Islands – Unesco, 16 pages.
  5. Néstor G.Navarro (2000), Public Waterfront Access: a Comparison of Integrated Coastal Management in Canada and the United States, Report No. 264, Simon Fraser University, 92 pages.
  6. Robert Gracía, Erica Flores Baltodano (2005), Free the Beach! Access, Equal Justice, and the California Coast,  2 Stanford Journal of Civil Rights and Civil Liberties 143, pp.144-208.
  7. San Francisco Bay Conservation and Development Commission (2005), Shoreline Spaces – Public Access Design Guidelines for the San Francisco Bay, 33 pages.
  8. Simpson, Murray C., Merce Clarke, Colleen S.L., Clarke, John D., Scott, Daniel, Clarke, Alexander J. (2012), Coastal Setbacks in Latin America and the Caribbean, Inter-American Development Bank, 175 pages.
  9. State government of Nova Scotia (2009), Public Coastal Access – the 2009 State of Nova Scotia’s Coast Report, 4 pages.
  10. Sunde Jackie and Isaacs Moenieba (2008), Marine Conservation and Coastal Communities: Who Carries the Costs? – A Study of Marine Protected Areas and Their Impact on Traditional Small-scale Fishing Communities in South Africa, International Collective in Support of Fishworkers, India, 48 pages.
  11. The World Bank, Oceans, Fisheries and Coastal Economies, http://www.worldbank.org/en/topic/environment/brief/oceans, chỉnh sửa lần cuối ngày 6/4/2018, truy cập ngày 09/05/2018.
  12. Vickey Nicole, Understanding and Providing Public Access to Connecticut’s Coast, Connecticut Sea Grant, 18 pages.

(Bài đăng trên Tạp chí Địa lý nhân văn, số 4(23) năm 2018, trang 11-17)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *